Trị Bịnh Đường Xa Bằng Đàn Thạch

Đàn Lục Diệu Kiến MinhTrị bịnh tầm xa, trị bịnh cách không hay trị bịnh cho những ai không có điều kiện đến để trị bịnh trực tiếp. Đây là phương thức gởi năng lượng đến một hay nhiều bịnh nhân ở bất kỳ nơi nào. Muốn dùng phương thức này, đòi hỏi người thầy trị bịnh cần phải có nội hàm tu luyện vững chắc và đó bao gồm năng lượng bản thân (nhân điện, khí công…) và tình thương (lòng từ bi, bác ái…). Có nội hàm tu luyện, người thầy mới có đủ khả năng truyền tải trường năng lượng của mình đến cho bịnh nhân; và có nhiều tình thương bác ái của người thầy thì tình thương đó mới có thể bao trùm những chủng tử trong và ngoài thân thể của bịnh nhân gây ra sự đau khổ, oan trái, nạn khổ thân-tâm…Và thêm vào đó ‘Đức Tin của bịnh nhân’ cũng là mấu chốt quan trọng. Người bịnh nhân tin tưởng và  chắc rằng phương pháp này có thể giúp họ hết bịnh tức là người đó đã khởi lên một ý niệm lạc quan và một cơ thể lành mạnh! Chính điều này sẽ giúp cơ thể thay đổi một cách nhanh chóng.

Có rất nhiều phương thức để gởi năng lượng đến cho bịnh nhân ở xa. Chẳng hạn:

- Gởi đi bằng tiếp xúc qua điện thoại.

- Gởi đi bằng thư từ viết tay, email.

- Gởi đi bằng hình ảnh.

- Gởi bằng trận đàn thạch đá (crystal mandala, crystal grids).

Tuy nhiên, để cho đơn giản, chúng tôi chỉ trình bày một số phương cách mà mọi người có thể thực hiện. Đó là ‘Trần Đàn Thạch Đá’.  Ở đây, chúng tôi chi tạm đưa mô hình của ‘Đàn Lục Diệu Kiến Minh’ để làm bài mẫu.   Ngoài ra còn có rất nhiều mô hình khác và tùy theo sở thích của mỗi người.

Thạch liệu: gồm 6 viên thạch đã được đánh bóng sẳng và 1 cây thạch anh nhọn dùng để kích phát năng lượng (activation energy). Có thể là: thạch anh hồng, thạch anh tím, thạch anh trắng, hổ nhãn thạch…

Thực hiện: bố trí thạch theo biểu đồ ‘lục giác’ như trên lên 1 miếng đá, dĩa hay miếng gỗ; kế đến để tên, hình ảnh của bịnh nhân vào trung tâm của hình (như 2 hình ở giữa).

Tiếp theo, người thầy khởi phát ‘tình thương, lòng từ bi bác ái’có thể nguyện rằng:

- ‘Nguyện cho ông/bà Nguyễn Văn A… không còn nạn khổ thân tâm, không còn oan trái, ép uổn với ai và luôn có sự an vui.’

- ‘Nguyện cho tất cả chủng tử trong và ngoài thân thể của ông/bà Nguyễn Văn A… không còn nạnsixsidegrid khổ thân tâm, không còn oan ái, ép uổn với ai và luôn có sự an vui.

Sau đó, người thy dùng cây ‘thạch anh’ như cây viết định hướng để vạch hướng kết nối năng lượng ‘đàn thạch’. Chúng ta có thể chọn bất kỳ điểm nào của trận rồi khởi từ ngoài (đỉnh của hình) vào trung tâm theo chiều mũi tên đi của hình bên phải, cuối. Làm như vậy cho trọn 1 vòng và làm 3 lần như vậy. Cuối cùng, người thầy ngồi im lặng hướng năng lượng đến cho bịnh nhân.

§ Nếu bạn nào biết dùng quả lắc cảm xạ, bạn có thể dùng để kích hoạt năng lượng bằng quả lắc của mình.

§ Bạn có thể dùng tay của mình rà trên ‘thạch đàn’ vài lần theo chiều ngược kim đồng hồ đến khi cảm nhận sức ấm tỏa lên từ trận

§ Hoặc dùng tay kiết ấn vẽ vòng trên trận.

§ Gởi năng lượng trực tiếp bằng Luân xa 6

Dùng hình ảnh, tên tuổi bịnh nhân

Để hình ảnh, tên tuổi bịnh nhân lên 1 đĩa thủy tinh sau đó để 1hay nhiều viên thạch đã được chọn sẳn (bằng thạch anh hồng, trắng, đen, tím…hình tròn, kim tự tháp, hình khối nhọn…) lên trên; kế đến phát nguyện như trên, kích hoạt năng lượng bằng quả lắc, rà tay, bắt ấn, sau đó ngồi im và hướng năng lượng đến cho người đó (ngồi yên, cầu kinh, niệm chú…). Chúng ta khởi tình thương, lòng từ bi bác ái niệm tưởng đến bịnh nhân. Đây chính là năng lượng mạnh nhất để bao trùm, xóa tan tất cả những nỗi thống khổ ở thân và tâm của người bịnh (tình thương xóa hận thù: thù nhà, nợ nước, thù lặc vặc vì danh, tài, lợi lộc…)

**Lưu Ý: Đàn Thạch chỉ phần nào là một hình thức sơ khởi giúp cho người thầy tập trung hướng năng lượng đến cho bịnh nhân. Tâm thuật hay tình thương (lòng từ bi, bác ái) của người thầy chính là mấu chốt của năng lượng. Tác dụng mạnh yếu cũng từ đó mà thể hiện.

Mong ước: một người nào đó không còn nạn khổ thân tâm tức là họ mạnh khỏe, hạnh phúc; người không còn oan trái hay ép uổn lẫn ai tức là không gây khó khăn cho ai hoặc ai gây khó khăn cho họ (vợ chồng, con cháu, bạn bè…).

Trận Tứ Trụ Bảo Luân

Trận Tứ Trụ Bảo Luân

Trận Thập Nhi Linh Thú

Trận Thập Nhi Linh Thú

Trận Bi Ái Thập Toàn

Trận Bi Ái Thập Toàn

Ngũ Hành Ứng – Giải

Ứng dụng học thuyết của Ngũ Hành đễ ‘Tầm Hung Hóa Kiết’ có rất nhiều lý lẻ sâu xa mà đôi lúc chúng ta cần phải nghiền ngẫm, kiểm chứng mới thấy được rõ sự vi diệu của chúng.

· Như nói đến ‘tốt nhứt’, tức là nói đến việc ‘tương đồng, tị hòa, đăng điện’ – Ngũ Hành tương đồng với nhau cũng như trong câu tục ngữ ‘dĩ hòa di quý’ – cái quý nhất là tìm được sự ‘hòa hảo’. Và chính vì chữ ‘Hòa và Quý’ này, chúng lại trùng lập với thuyết Ngũ Hành Tương Lưỡng: ‘Lưỡng Hỏa Thành Viêm’ – chẳng khác nào việc bắn pháo bông đầy trời, càng nhiều càng đẹp, càng sáng! Đeo những thạch đá có màu sắc cùng hành với Mạng của mình như cung Ly – mạng Hỏa có đỏ, có hồng, có cam, có tím chẳng khác nào như đi đâu cũng có đôi có bạn.

· Như nói đến ‘tốt nhì’ tức là vận dụng thuyết ‘Ngũ Hành Tương Sinh’. Chúng ta chọn ‘cái sinh ra ta’ để được ‘dưỡng nuôi, chiều chuộng’, ra ngoài được nhiều người chăm sóc, chiếu cố. Người được ‘Ngũ hành Tương Sinh’ như người quân tử được ngôi – đắc vị. Tỉ như: Hỏa do Mộc sinh. Nên dùng những màu như xanh lục, xanh lam, xanh đọt chuối, xanh lá mạ… thì cũng như ‘diều gặp gió’ dễ được ‘đề bạt, nâng đở’ rồi thì việc ‘thăng quan tiến chức’ hay ‘Tài lộc tiến tăng’ tất cả sẽ dễ dàng hội đủ.

· Như nói đến chổ ‘tốt ba’ tức là vận dụng thuyết ‘Tham Sinh Kỵ Khắc’. Thay vì tốn phí hơi sức để đi đánh lộn thì chúng ta nên chọn cái tương sinh, tức là cái ‘ta sinh’. Tuy bị ‘tiết khí, xì hơi’ một tí nhưng rồi đâu cũng tốt đẹp – mẹ tròn con vuông. Sinh ra ta là cha mẹ, phụ mẫu. Ta sinh ra là con cháu, tử túc, người làm, kẻ dưới (nô bộc) của ta. Việc đầu tư, dung dưỡng, chu cấp cho thế hệ sau, cấp dưới quả là một ‘thiên chức’ như trồng cây được đơm hoa kết trái thì sợ gì ‘không người kế tự’… Ngũ Hành Tương Sinh có ‘…Hỏa sinh Thổ…’ Màu sắc của Thổ có: vàng, kem, nâu, cam, đỏ.

· Cái gọi là ‘kỵ khắc’ tức là điều không nên gặp phải. Kỵ khắc có 2 loại: kỵ tata kỵ. Kỵ ta tức là cái mà ta khắc chế được. Còn cái ‘ta ky’ tức là cái khắc chế ta. Dù gì đi nữa cái nào cũng không tốt, đằng nào cũng mệt, cũng chết. Nên tránh được thì tránh. Ta đánh nó thì ta mệt. Người đánh ta thì thế nảo cũng bể đầu lổ tráng, bầm môi tím mặt… Trên đời, ai cũng thích bình yên chứ ai nào muốn lộn xộn, gây cấn, ấu đả … huống chi ta lại không biết đối phương mạnh hay yếu. Như đất – Thổ có thể ngăn sông đấp bể. Nhưng đê bờ bị nước dập hoài cũng nức đê, vở đập. Hôm nay ta có thể chế phục được nó nhưng đâu biết rằng ngày sau nó chế phục lại ta. Thôi thì giữ lấy bình yên cho xong chuyện, vui vẻ cả làng!…Như trong cái thường tình, 2 cái được gọi là kỵ đối với Hỏa đó là: Hỏa chế Kim và bị Thủy chế. Màu sắc của Thủy có: đen, xanh, chàm. Màu của Kim có: trắng, vàng, bạc. Tất cà đều không tốt đối với Hỏa.

Tóm lại, Ngũ Hành biến hóa rất vi diệu! Tương sinh, tương khắc, tương lưỡng, tương thừa, tương vũ… tất cả cần nên nhớ để khi gặp chuyện ứng dùng một cách vô tư.

Ngũ Hành, Ngũ Sắc diệu vô cùng!

Đông, Tây, Nam, Bắc lắm kiết hung

Nhân gian thế sự cần nên nắm

Hóa hung tầm kiết, việc an nhàng.

Tương sinh tương hợp phân nhị nhứt

Khắc sinh khắc xuất kỵ vô cùng

Thà là sinh đở hơn bị khắc

Lấy tượng bình yên, sống miên trường.

Tra Ngũ Hành Mạng Số

Mạng Số Tính Theo Ngũ Hành

Tên gọi của tuổi là một tích hợp của Thiên Địa Trời Đất. Thiên có Thiên Can, Địa có Địa chi. Tổ hợp của Thiên can và Địa chi tạo thành một dạng thức Không gian và Thời gian giống như sự hợp thành ‘thai nhân’ từ ‘tinh cha huyết mẹ’. Ngũ Hành là nguồn máy cơ cấu vận hành cơ thể tương tác với vạn điều vạn sự xung quanh. Nắm bắt và hiểu rõ Mạng số có thể giúp ta dễ dàng thích ứng với môi trường.

Bảng Tra Mạng Tuổi Theo Năm Sinh:

Lục Thập

Hoa Giáp

Giáp Ất

Bính Đinh

Mậu Kỷ

Canh Tân

Nhâm Quý

Tí Sửu

Ngọ Mùi

Kim

Thủy

Hỏa

Thổ

Mộc

Dần Thân

Mão Dậu

Thủy

Hỏa

Thổ

Mộc

Kim

Thìn Tuất

Tị Hợi

Hỏa

Thổ

Mộc

Kim

Thủy

Dụng Thạch Cho Việc Phối Mạng Và Phi Cung (Mạng Thủy)

Người Mạng Thủy – Phi Cung Khảm

Thủy: chủ trí tuệ.

Chuộng Sắc: đen, xanh, chàm, ngọc bích (tốt nhứt).

Hợp sắc trắng, vàng kim, bạc (dĩ kim sinh thủy) (tốt vừa).

Hợp màu xanh lục, lam, xanh đọt chuối, xanh lá mạ (tạm tốt vì bị ‘xì’-‘tiết khí’).

Hợp Đông Tứ Cục: Khảm Ly Chấn Tốn.

Gặp: Mộc (Chấn, Tốn) tương sinh là đắc vị, Thủy (Khảm) tị hòa là đăng điện.

Khắc chế: được Hỏa, những màu đỏ, hồng, cam, tím.

Kỵ : Thổ khắc, gặp vàng, kem, nâu xám là bất lợi, đại hung.

Thạch dụng tương ứng:

Tốt Nhứt: dùng thạch sắc đen, xanh, chàm, ngọc bích như: blue(diamond, sapphire, topaz, jade, calcite, agate, chalcedony) black (obsidian, onyx, tourmaline, jade, sapphire, agate) , aquamarine, labradorite, lapis, sodalite, (black, smoky, blue) quartz,

Tốt nhì: white diamond, white jade, topaz, quartz, kunzite,

Tốt ba: emerald, peridot, green (jade fluorite calcite), aventurine, bloodstone, green.

Kỵ thạch sắc vàng, kem, xám: citrine, jade, tiger’s eye, petrified wood, amber, yellow (sapphire, diamond, topaz, calcite, agate, chalcedony) sẽ bất lợi, đại hung.

Dụng Thạch Cho Việc Phối Mạng Và Phi Cung (Mạng Thổ)

Người Mạng Thổ – Phi Cung Khôn Cấn

Thổ: chủ tín nghĩa.

Chuộng Sắc: vàng, kem, nâu, xám (tốt nhứt).

Hợp sắc đỏ, hồng, cam, tím (dĩ hỏa sinh thổ) (tốt vừa).

Hợp sắc trắng, vàng kim, bạc (tạm tốt vì bị ‘xì’-‘tiết khí’).

Hợp Tây Tứ Cục: Càn Khôn Cấn Đoài.

Gặp: Kim (Càn, Đoài) tương sinh là đắc vị, Thổ (Khôn, Cấn) tị hòa là đăng điện.

Kỵ : Mộc khắc, gặp sắc xanh lục, xanh lam, xanh đọt chuối, xanh lá mạ là bất lợi, đại hung.

Thạch dụng tương ứng:

Tốt Nhứt: dùng thạch sắc vàng, kem nâu xám như: ruby, rubelite, pink tourmaline, rose quartz, amethyst, carnelian, red/pink jade.

Tốt nhì: ruby, rubelite, pink tourmaline, rose quartz, amethyst, carnelian, red/pink jade.

Tốt ba: diamond, quartz, white (jade, topaz, sapphire, fluorite, calcite, agate, chalcedony).

Khắc chế: được Thủy, những màu đen, xanh, chàm, nước biển.

Kỵ thạch sắc xanh lục như emerald, peridot, green jade, aventurine, bloodstone, green fluorite, green calcite sẽ bất lợi, đại hung.

Dụng Thạch Cho Việc Phối Mạng Và Phi Cung (Mạng Hỏa)

Người Mạng Hỏa – Phi Cung Ly

Hỏa: chủ lễ nghĩa.

Chuộng Sắc: đỏ, hồng, cam, tím (tốt nhứt).

Hợp màu xanh lục, xanh lam, xanh đọt chuối, xanh lá mạ (dĩ mộc sinh hỏa) (tốt vừa).

Hợp màu vàng, kem, nâu, xám (tạm tốt vì bị ‘xì’-‘tiết khí’).

Hợp Đông Tứ Cục: Khảm Ly Chấn Tốn.

Gặp: Mộc (Chấn, Tốn) tương sinh là đắc vị, Hỏa (Ly) tị hòa là đăng điện.

Kỵ : Thủy khắc, gặp màu đen, xanh, chàm, ngọc bích là bất lợi, đại hung.

Thạch dụng tương ứng:

Tốt Nhứt: dùng những thạch có sắc đỏ, hồng, cam, tím ruby, rubelite, pink tourmaline, rose quartz, amethyst, carnelian, red/pink jade.

Tốt nhì: emerald, peridot, green jade, agate, bloodstone, green tourmaline.

Tốt ba: citrine, jade, tiger’s eye, petrified wood, amber, yellow (sapphire, diamond, topaz, calcite, agage, chalcedony).

Khắc chế: được Kim, những màu trắng, vàng kim, bạc.

Kỵ thạch sắc đen, xanh, chàm, ngọc bích như: blue (sapphire diamond, topaz), black (obsidian, onyx, tourmaline, jade, sapphire), aquamarine, labradorite, lapis, sodalite, (black,smoky, blue) quartz sẽ bất lợi, đại hung.

Dụng Thạch Cho Việc Phối Mạng Và Phi Cung (Mạng Mộc)

Người Mạng Mộc – Phi Cung Chấn Tốn

Mộc: chủ nhân nghĩa.

Chuộng Sắc: xanh lục, lam, xanh đọt chuối, xanh lá mạ (tốt nhứt).

Hợp màu đen, xanh (da trời, nước biển, ngọc bích), chàm (dĩ thủy sinh mộc) (tốt vừa).

Hợp màu đỏ, hồng, cam, tím (tạm tốt vì bị ‘xì’-‘tiết khí’).

Hợp Đông Tứ Cục: Khảm Ly Chấn Tốn.

Gặp: Thủy, Hỏa (Khảm, Ly) tương sinh là đắc vị, Mộc (Chấn, Tốn) tị hòa là đăng điện.

Kỵ : Kim khắc, gặp màu trắng, vàng kim, bạc là bất lợi, đại hung.

Thạch dụng tương ứng:

Tốt Nhứt: emerald, peridot, green jade, agate, bloodstone, green tourmaline.

Tốt Nhì: aquamarine, blue sapphire, labradorite,

Tốt ba: ruby, rubelite, pink tourmaline, rose quartz, amethyst, carnelian, red/pink jade.

Khắc chế: được Thổ, những màu vàng, kem, cam, nâu, xám, đỏ.

Kỵ thạch màu trắng, vàng kim, xám như diamond, quartz, aquamarine, topaz, hiddenite, jade, rutile quartz sẽ bất lợi, đại hung.

Dụng Thạch Cho Việc Phối Mạng và Phi Cung (Mạng Kim)

Người Mạng Kim – Phi Cung Càn Đoài :

Kim: chủ nghĩa khí

Chuộng Sắc: trắng, vàng kim, bạc (tốt nhứt).

Hợp màu vàng, kem, nâu xám (dĩ thổ sinh kim) (tốt vừa).

Hợp màu đen, xanh, chàm, ngọc bích (tạm tốt vì bị ‘xì’-‘tiết khí’).

Hợp Tây Tứ Cục: Càn Khôn Cấn Đoài.

Gặp: Thổ (Khôn, Cấn) tương sinh là đắc vị, Kim (Càn, Đoài) tị hòa là đăng điện.

Khắc chế: được Mộc, những màu xanh lục, lam, đọt chuối, lá mạ.

Kỵ : Hỏa khắc, gặp màu hồng, đỏ, tím là bất lợi, đại hung.

Thạch dụng tương ứng:

Tốt Nhứt: dùng thạch màu trắng, vàng kim, bạc như: diamond, quartz, aquamarine, topaz, hiddenite, jade, rutile quartz,

Tốt nhì: dùng thạch màu vàng, kem, nâu, xám: citrine, jade, tiger’s eye, petrified wood, amber, yellow (sapphire, diamond, topaz, calcite, agate, chalcedony).

Tốt ba: dùng thạch màu đen, xanh chàm, ngọc bích như: aquamarine, blue sapphire, blue topaz, onyx, obsidian, black tourmaline

Kỵ thạch màu hồng, đỏ tím như: ruby, rubelite, pink tourmaline, rose quartz, amethyst, carnelian, red/pink jade. sẽ bất lợi, đại hung.

Phi Cung Bát Phối

‘Thuận thiên tri mạng, gia đạo toàn

Nghịch thiên bỉ mạng, gia đạo vong.’

Ứng dụng cái biết của Ngũ hành hòng bỏ cái xấu, phát triển cái tốt để tô điểm cho đời thêm phong phú. Ứng dụng của Phi cung dùng để làm tốt hơn cái đang tốt hay hóa giải những điều hung hiểm gây nhiều tai vạ, bất mãn đến cho tinh thần và sức khỏe. Cho dù là dùng Mạng (Ngũ Hành) hay Phi Cung, tất cả cần phải hòa hợp với không gian và thời gian (Thiên-Địa-Nhân).

Người cung CÀN:

Hướng tốt:
+ Hướng Thiên Y : Đông Bắc, thuộc quẻ Cấn.
+ Hướng Phục Vị : Tây Bắc, thuộc quẻ Càn
+ Hướng Sinh Khí : Tây, thuộc quẻ Đoài.
+ Hướng Phước Đức : Tây Nam, thuộc quẻ Khôn.

Hướng xấu:
+ Hướng Lục Sát : Bắc, thuộc quẻ Khảm.
+ Hướng Tuyệt Mạng : Nam, thuộc quẻ Ly.
+ Hướng Họa Hại : Đông Nam, thuộc quẻ Tốn.
+ Hướng Ngũ Quỷ : Đông , thuộc quẻ Chấn.

Người cung ĐOÀI :

Hướng tốt:
+ Hướng Thiên Y : Tây Nam, thuộc quẻ Khôn.
+ Hướng Phục Vị : Tây, thuộc quẻ Đoài.
+ Hướng Sinh Khí : Tây Bắc, thuộc quẻ Càn.
+ Hướng Phước Đức : Đông Bắc, thuộc quẻ Cấn.

Hướng xấu:
+ Hướng Lục Sát : Đông Nam, thuộc quẻ Tốn.
+ Hướng Tuyệt Mạng : Đông , thuộc quẻ Chấn.
+ Hướng Họa Hại : Bắc, thuộc quẻ Khảm.
+ Hướng Ngũ Quỷ : Nam, thuộc quẻ Ly.

Người cung KHÔN :

Hướng tốt:
+ Hướng Thiên Y : Tây, thuộc quẻ Đoài.
+ Hướng Phục Vị : Tây Nam, thuộc quẻ Khôn.
+ Hướng Sinh Khí : Đông Bắc, thuộc quẻ Cấn.
+ Hướng Phước Đức : Tây Bắc, thuộc quẻ Càn.

Hướng xấu:
+ Hướng Lục Sát : Nam, thuộc quẻ Ly.
+ Hướng Tuyệt Mạng : Bắc, thuộc quẻ Khảm.
+ Hướng Họa Hại : Đông , thuộc quẻ Chấn.
+ Hướng Ngũ Quỷ : Đông Nam, thuộc quẻ Tốn.

Người cung CẤN :
Hướng tốt:
+ Hướng Thiên Y : Tây Bắc, thuộc quẻ Càn.
+ Hướng Phục Vị : Đông Bắc, thuộc quẻ Cấn.
+ Hướng Sinh Khí : Tây Nam, thuộc quẻ Khôn.
+ Hướng Phước Đức : Tây, thuộc quẻ Đoài.

Hướng xấu:
+ Hướng Lục Sát : Đông , thuộc quẻ Chấn.
+ Hướng Tuyệt Mạng : Đông Nam, thuộc quẻ Tốn. .
+ Hướng Họa Hại : Nam, thuộc quẻ Ly.
+ Hướng Ngũ Quỷ : Bắc, thuộc quẻ Khảm

Học Ngũ Hành, hiểu Mạng số. Ứng dụng tầm Hung hóa Kiết!

Ngũ Hành Là Gì?

Là một học thuyết Đông Phương cổ nói lên sự tương quan giữa người và vạn vật. Ngũ Hành là danh từ đặt chung cho 5 tên gọi ‘Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ’. Nôm na mà nói: “ kim là sắt, mộc là cây, thủy là nước, hỏa là lữa, thổ là đất”. Nghe thì rất đơn giản, nhưng nếu muốn hiểu rõ một cách tường tận thì không mấy giản đơn chút nào. Do vậy, chúng ta cần đi từng bước một để cho dễ nhớ và từ đó thâm nhập một cách tự nhiên.

Khái niệm Tương Sinh Tương Khắc

Tương Sinh

Thổ sinh Kim như đào đất tìm vàng.

Kim sinh Thủy như đốt kim phân chất.

Thủy sinh Mộc như lấy nước tưới cây.

Mộc sinh Hỏa như đốt củi nhóm lữa.

Hỏa sinh Thổ như đốt trấu thành tro.

Tương Khắc

Mộc khắc Thổ như lấy cây sới đất.

Thổ khắc Thủy như đắp đê ngăn lũ

Thủy khắc Hỏa như lấy nước cứu lữa.

Hỏa khắc Kim như khè lữa đút vàng.

Kim khắc Mộc như đục chạm tượng gỗ.


Ngoài khái niệm Tương sinh Tương Khắc, còn có những khái niệm khác suy diễn mở rộng như:

Ø Tương Thừa: là hiện tượng không bình thường trong Ngũ Hành. Một hành nào đó quá mạnh hiếp đáp hành mà nó khắc chế trong điều kiện bình thường. Chẳng hạn, bình thường Kim khắc Mộc. Vì lý do nào đó Kim quá vượng nên nó càng khắc Mộc mạnh hơn.

Ø Tương Vũ: là hiện tượng không bình thường trong Ngũ Hành. Một hành nào đó quá mạnh không thể để cho hành khác không chế mình. Chẳng hạn, bình thường Mộc khắc Thổ. Vì lý do nào đó Thổ quá vượng làm Mộc không thể khắc.

Ø Tương Lưỡng Tương Sinh: hiện tượng Ngũ Hành đồng loại cùng góp sức nhau làm cho vững mạnh như trong câu ca dao: ‘một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao’.

Lưỡng Kim thành Khí. Như kim gặp kim khải khúc nhạc thanh bình.

Lưỡng Mộc thành lâm. Như cây gặp cây rừng thêm xanh thắm.

Lưỡng Thủy thành Giang. Như nước gặp nước sông cuồn cuộn chảy.

Lưỡng Hỏa thành Viêm. Như lữa gặp lữa sức nóng càng tăng.

Lưỡng Thổ thành Sơn. Như núi gặp núi nước non hùng vĩ.

Ø Tương lưỡng Tương Khắc: hiện tượng Ngũ Hành đồng loại bị triệt tiêu khi gặp nhau như trong câu tục ngữ: ‘đồng vợ đồng chồng tác biển Đông cũng cạn, nghịch vợ nghịch chồng núi non sạt lở’.

Lưỡng Kim, Kim khuyết. Như kiếm gặp kiếm, chém hoài sức mẻ.

Lưỡng Mộc, Mộc chiết. Như gậy gặp gậy, đập gẩy lung tung.

Lưỡng Thủy Thủy triệt. Như nước gặp nước, đục dơ lẫn lộn.

Lưỡng Hỏa, Hỏa tiêu. Như hỏa gặp hỏa, nóng nổ tiêu tan.

Lưỡng Thổ, Thổ liệt. Như đất gặp đất, bùn lầy sềnh sệt.

Ø Phản Sinh: Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành.

- Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp.
– Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than.

- Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt.
– Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt.
Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.

Ø Phản Khắc: Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn bị thương tổn, gây nên sự phản khắc.

- Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy.
– Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu.
– Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt.
– Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn.
– Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt.

Phi Cung:

Phi cung là một dạng thể không gian thường dùng trong dân gian bên cạnh Ngũ Hành Mạng Số. Đặc biệt trong các khoa Phong Thủy, Bốc Dịch, Tử Vi, Lý Số, Phi cung rất thường được dùng để đo những giao động ‘may rủi’ của một người nào đó. Một người nếu khéo nắm biết được Phi Cung của mình có thể tự giúp bản thân giải quyết (giải thích), phòng ngừa hay phát huy nhiều điều mang đến sự cát tường cho sức khỏe và tinh thần.

Phi cung được chia làm 2 loại: Phi Cung Âm Trạch (Mạng cung hay sanh Cung) và Phi Cung Dương Trạch. Âm Trạch chủ về đất đai chôn cất, mồ mả. Dương Trạch chủ về nhà cửa, phòng ốc, đền đài dùng để sinh sống, che mưa, che gió. Do vậy, đối với sự sống hàng ngày (tương tác sinh thế), chúng ta chỉ dùng Phi Cung Dương Trạch.

Trời Đất có Âm có Dương, Người có nam có nữ. Nên Phi cung của nam và nữ trong cùng một năm cũng khác nhau. Tuy khác nhau nhưng sự tương tác cũng có trợ có khắc. Nếu cùng chung một nhóm thì dễ dàng hỗ trợ cho nhau nên gọi là Cát. Còn như khác nhóm thì lại xung đột nhau nên gọi là Hung.

Ø Nhóm Phi cung Đông Trạch: gồm những cung: Khảm Ly Chấn Tốn.

Ø Nhóm Phi cung Tây Trạch: gồm những cung: Càn Khôn Cấn Đoài.

Thơ rằng: Tầm Ngũ Sắc, tầm trong Thiên Sắc

Luận Bát cung, nhó rõ Tứ Ngung

Ứng dùng vạn sự ung dung

Lướt mây, lướt sóng mệnh chung, mĩm cười!

Cách tự tính Phi cung theo Năm Dương Lịch

Cách 1: Lấy tổng 2 số cuối cộng lại sau cho còn 1 đơn vị. Sau đó cộng 5 nếu là Nữ, trừ 10 nếu là nam. Nếu kết quả còn lớn hơn 10 hoặc bằng 10. Cộng lại với nhau sau cho còn 1 đơn vị (như 10=1+0=1)

Kết quả sau cùng là tượng số ứng với Hậu Thiên Bát Quái. Trường hợp đặc biệt có kết quả là 5, ta sẽ có các quẻ tương ứng như sau:

Thượng nguyên: Nam          Nữ

Trung nguyên:    Nam          Nữ

Hạ Nguyên:        Nam          Nữ

Càn

Khảm

Cấn

Chấn

Tốn

Ly

Khôn

Đoài

6

1

8

3

4

9

2

7

Thí dụ: người sinh năm 1963, Phi cung gì? Ta có: 6+3= 9, Nam= 10-9=1 cung Khảm (1), Nữ =5+9=14=1+4= 5 cung Khôn (1)

Cách 2: lấy tổng số của năm sinh trừ đi cho 9 đến mức không trừ được nữa làm số Đặc Biệt sao đó tra theo bảng đã được quy nạp: Hay tổng số của năm chia cho 9, số sư là Số Đặc Biệt.


Số Đặc Biệt

1

2

3

4

5

6

7

8

9 hay 0

Nam

Khảm

Ly

Cấn

Đoài

Càn

Khôn

Tốn

Chấn

Khôn

Nữ

Cấn

Càn

Đoài

Cấn

Ly

Khảm

Khôn

Chấn

Tốn

Thí dụ: người sinh năm 1967, Phi cung gì? Cộng tất cả các cong số trong năm ta có: 1967 = 1+6+7 (bỏ 9) = 14 = 1+4 = 5. 5 là số đặc biệt. Tra vào bảng trên ta được phi cung Càn Ly – ứng với Nam Nữ.

Next Page »