Ngũ Hành Ứng – Giải

Ứng dụng học thuyết của Ngũ Hành đễ ‘Tầm Hung Hóa Kiết’ có rất nhiều lý lẻ sâu xa mà đôi lúc chúng ta cần phải nghiền ngẫm, kiểm chứng mới thấy được rõ sự vi diệu của chúng.

· Như nói đến ‘tốt nhứt’, tức là nói đến việc ‘tương đồng, tị hòa, đăng điện’ – Ngũ Hành tương đồng với nhau cũng như trong câu tục ngữ ‘dĩ hòa di quý’ – cái quý nhất là tìm được sự ‘hòa hảo’. Và chính vì chữ ‘Hòa và Quý’ này, chúng lại trùng lập với thuyết Ngũ Hành Tương Lưỡng: ‘Lưỡng Hỏa Thành Viêm’ – chẳng khác nào việc bắn pháo bông đầy trời, càng nhiều càng đẹp, càng sáng! Đeo những thạch đá có màu sắc cùng hành với Mạng của mình như cung Ly – mạng Hỏa có đỏ, có hồng, có cam, có tím chẳng khác nào như đi đâu cũng có đôi có bạn.

· Như nói đến ‘tốt nhì’ tức là vận dụng thuyết ‘Ngũ Hành Tương Sinh’. Chúng ta chọn ‘cái sinh ra ta’ để được ‘dưỡng nuôi, chiều chuộng’, ra ngoài được nhiều người chăm sóc, chiếu cố. Người được ‘Ngũ hành Tương Sinh’ như người quân tử được ngôi – đắc vị. Tỉ như: Hỏa do Mộc sinh. Nên dùng những màu như xanh lục, xanh lam, xanh đọt chuối, xanh lá mạ… thì cũng như ‘diều gặp gió’ dễ được ‘đề bạt, nâng đở’ rồi thì việc ‘thăng quan tiến chức’ hay ‘Tài lộc tiến tăng’ tất cả sẽ dễ dàng hội đủ.

· Như nói đến chổ ‘tốt ba’ tức là vận dụng thuyết ‘Tham Sinh Kỵ Khắc’. Thay vì tốn phí hơi sức để đi đánh lộn thì chúng ta nên chọn cái tương sinh, tức là cái ‘ta sinh’. Tuy bị ‘tiết khí, xì hơi’ một tí nhưng rồi đâu cũng tốt đẹp – mẹ tròn con vuông. Sinh ra ta là cha mẹ, phụ mẫu. Ta sinh ra là con cháu, tử túc, người làm, kẻ dưới (nô bộc) của ta. Việc đầu tư, dung dưỡng, chu cấp cho thế hệ sau, cấp dưới quả là một ‘thiên chức’ như trồng cây được đơm hoa kết trái thì sợ gì ‘không người kế tự’… Ngũ Hành Tương Sinh có ‘…Hỏa sinh Thổ…’ Màu sắc của Thổ có: vàng, kem, nâu, cam, đỏ.

· Cái gọi là ‘kỵ khắc’ tức là điều không nên gặp phải. Kỵ khắc có 2 loại: kỵ tata kỵ. Kỵ ta tức là cái mà ta khắc chế được. Còn cái ‘ta ky’ tức là cái khắc chế ta. Dù gì đi nữa cái nào cũng không tốt, đằng nào cũng mệt, cũng chết. Nên tránh được thì tránh. Ta đánh nó thì ta mệt. Người đánh ta thì thế nảo cũng bể đầu lổ tráng, bầm môi tím mặt… Trên đời, ai cũng thích bình yên chứ ai nào muốn lộn xộn, gây cấn, ấu đả … huống chi ta lại không biết đối phương mạnh hay yếu. Như đất – Thổ có thể ngăn sông đấp bể. Nhưng đê bờ bị nước dập hoài cũng nức đê, vở đập. Hôm nay ta có thể chế phục được nó nhưng đâu biết rằng ngày sau nó chế phục lại ta. Thôi thì giữ lấy bình yên cho xong chuyện, vui vẻ cả làng!…Như trong cái thường tình, 2 cái được gọi là kỵ đối với Hỏa đó là: Hỏa chế Kim và bị Thủy chế. Màu sắc của Thủy có: đen, xanh, chàm. Màu của Kim có: trắng, vàng, bạc. Tất cà đều không tốt đối với Hỏa.

Tóm lại, Ngũ Hành biến hóa rất vi diệu! Tương sinh, tương khắc, tương lưỡng, tương thừa, tương vũ… tất cả cần nên nhớ để khi gặp chuyện ứng dùng một cách vô tư.

Ngũ Hành, Ngũ Sắc diệu vô cùng!

Đông, Tây, Nam, Bắc lắm kiết hung

Nhân gian thế sự cần nên nắm

Hóa hung tầm kiết, việc an nhàng.

Tương sinh tương hợp phân nhị nhứt

Khắc sinh khắc xuất kỵ vô cùng

Thà là sinh đở hơn bị khắc

Lấy tượng bình yên, sống miên trường.