Học Ngũ Hành, hiểu Mạng số. Ứng dụng tầm Hung hóa Kiết!

Ngũ Hành Là Gì?

Là một học thuyết Đông Phương cổ nói lên sự tương quan giữa người và vạn vật. Ngũ Hành là danh từ đặt chung cho 5 tên gọi ‘Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ’. Nôm na mà nói: “ kim là sắt, mộc là cây, thủy là nước, hỏa là lữa, thổ là đất”. Nghe thì rất đơn giản, nhưng nếu muốn hiểu rõ một cách tường tận thì không mấy giản đơn chút nào. Do vậy, chúng ta cần đi từng bước một để cho dễ nhớ và từ đó thâm nhập một cách tự nhiên.

Khái niệm Tương Sinh Tương Khắc

Tương Sinh

Thổ sinh Kim như đào đất tìm vàng.

Kim sinh Thủy như đốt kim phân chất.

Thủy sinh Mộc như lấy nước tưới cây.

Mộc sinh Hỏa như đốt củi nhóm lữa.

Hỏa sinh Thổ như đốt trấu thành tro.

Tương Khắc

Mộc khắc Thổ như lấy cây sới đất.

Thổ khắc Thủy như đắp đê ngăn lũ

Thủy khắc Hỏa như lấy nước cứu lữa.

Hỏa khắc Kim như khè lữa đút vàng.

Kim khắc Mộc như đục chạm tượng gỗ.


Ngoài khái niệm Tương sinh Tương Khắc, còn có những khái niệm khác suy diễn mở rộng như:

Ø Tương Thừa: là hiện tượng không bình thường trong Ngũ Hành. Một hành nào đó quá mạnh hiếp đáp hành mà nó khắc chế trong điều kiện bình thường. Chẳng hạn, bình thường Kim khắc Mộc. Vì lý do nào đó Kim quá vượng nên nó càng khắc Mộc mạnh hơn.

Ø Tương Vũ: là hiện tượng không bình thường trong Ngũ Hành. Một hành nào đó quá mạnh không thể để cho hành khác không chế mình. Chẳng hạn, bình thường Mộc khắc Thổ. Vì lý do nào đó Thổ quá vượng làm Mộc không thể khắc.

Ø Tương Lưỡng Tương Sinh: hiện tượng Ngũ Hành đồng loại cùng góp sức nhau làm cho vững mạnh như trong câu ca dao: ‘một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao’.

Lưỡng Kim thành Khí. Như kim gặp kim khải khúc nhạc thanh bình.

Lưỡng Mộc thành lâm. Như cây gặp cây rừng thêm xanh thắm.

Lưỡng Thủy thành Giang. Như nước gặp nước sông cuồn cuộn chảy.

Lưỡng Hỏa thành Viêm. Như lữa gặp lữa sức nóng càng tăng.

Lưỡng Thổ thành Sơn. Như núi gặp núi nước non hùng vĩ.

Ø Tương lưỡng Tương Khắc: hiện tượng Ngũ Hành đồng loại bị triệt tiêu khi gặp nhau như trong câu tục ngữ: ‘đồng vợ đồng chồng tác biển Đông cũng cạn, nghịch vợ nghịch chồng núi non sạt lở’.

Lưỡng Kim, Kim khuyết. Như kiếm gặp kiếm, chém hoài sức mẻ.

Lưỡng Mộc, Mộc chiết. Như gậy gặp gậy, đập gẩy lung tung.

Lưỡng Thủy Thủy triệt. Như nước gặp nước, đục dơ lẫn lộn.

Lưỡng Hỏa, Hỏa tiêu. Như hỏa gặp hỏa, nóng nổ tiêu tan.

Lưỡng Thổ, Thổ liệt. Như đất gặp đất, bùn lầy sềnh sệt.

Ø Phản Sinh: Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành.

- Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp.
– Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than.

- Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt.
– Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt.
Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.

Ø Phản Khắc: Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn bị thương tổn, gây nên sự phản khắc.

- Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy.
– Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu.
– Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt.
– Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn.
– Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt.

Phi Cung:

Phi cung là một dạng thể không gian thường dùng trong dân gian bên cạnh Ngũ Hành Mạng Số. Đặc biệt trong các khoa Phong Thủy, Bốc Dịch, Tử Vi, Lý Số, Phi cung rất thường được dùng để đo những giao động ‘may rủi’ của một người nào đó. Một người nếu khéo nắm biết được Phi Cung của mình có thể tự giúp bản thân giải quyết (giải thích), phòng ngừa hay phát huy nhiều điều mang đến sự cát tường cho sức khỏe và tinh thần.

Phi cung được chia làm 2 loại: Phi Cung Âm Trạch (Mạng cung hay sanh Cung) và Phi Cung Dương Trạch. Âm Trạch chủ về đất đai chôn cất, mồ mả. Dương Trạch chủ về nhà cửa, phòng ốc, đền đài dùng để sinh sống, che mưa, che gió. Do vậy, đối với sự sống hàng ngày (tương tác sinh thế), chúng ta chỉ dùng Phi Cung Dương Trạch.

Trời Đất có Âm có Dương, Người có nam có nữ. Nên Phi cung của nam và nữ trong cùng một năm cũng khác nhau. Tuy khác nhau nhưng sự tương tác cũng có trợ có khắc. Nếu cùng chung một nhóm thì dễ dàng hỗ trợ cho nhau nên gọi là Cát. Còn như khác nhóm thì lại xung đột nhau nên gọi là Hung.

Ø Nhóm Phi cung Đông Trạch: gồm những cung: Khảm Ly Chấn Tốn.

Ø Nhóm Phi cung Tây Trạch: gồm những cung: Càn Khôn Cấn Đoài.

Thơ rằng: Tầm Ngũ Sắc, tầm trong Thiên Sắc

Luận Bát cung, nhó rõ Tứ Ngung

Ứng dùng vạn sự ung dung

Lướt mây, lướt sóng mệnh chung, mĩm cười!

Cách tự tính Phi cung theo Năm Dương Lịch

Cách 1: Lấy tổng 2 số cuối cộng lại sau cho còn 1 đơn vị. Sau đó cộng 5 nếu là Nữ, trừ 10 nếu là nam. Nếu kết quả còn lớn hơn 10 hoặc bằng 10. Cộng lại với nhau sau cho còn 1 đơn vị (như 10=1+0=1)

Kết quả sau cùng là tượng số ứng với Hậu Thiên Bát Quái. Trường hợp đặc biệt có kết quả là 5, ta sẽ có các quẻ tương ứng như sau:

Thượng nguyên: Nam          Nữ

Trung nguyên:    Nam          Nữ

Hạ Nguyên:        Nam          Nữ

Càn

Khảm

Cấn

Chấn

Tốn

Ly

Khôn

Đoài

6

1

8

3

4

9

2

7

Thí dụ: người sinh năm 1963, Phi cung gì? Ta có: 6+3= 9, Nam= 10-9=1 cung Khảm (1), Nữ =5+9=14=1+4= 5 cung Khôn (1)

Cách 2: lấy tổng số của năm sinh trừ đi cho 9 đến mức không trừ được nữa làm số Đặc Biệt sao đó tra theo bảng đã được quy nạp: Hay tổng số của năm chia cho 9, số sư là Số Đặc Biệt.


Số Đặc Biệt

1

2

3

4

5

6

7

8

9 hay 0

Nam

Khảm

Ly

Cấn

Đoài

Càn

Khôn

Tốn

Chấn

Khôn

Nữ

Cấn

Càn

Đoài

Cấn

Ly

Khảm

Khôn

Chấn

Tốn

Thí dụ: người sinh năm 1967, Phi cung gì? Cộng tất cả các cong số trong năm ta có: 1967 = 1+6+7 (bỏ 9) = 14 = 1+4 = 5. 5 là số đặc biệt. Tra vào bảng trên ta được phi cung Càn Ly – ứng với Nam Nữ.